Bà Hạnh hôm nay dậy từ sáng sớm, đi chợ mua hương hoa, lau chùi bàn thờ sạch sẽ. Trên bàn thờ có 2 di ảnh liệt sỹ. Hôm nay ngày 27/7, sẽ có các đoàn đến thăm gia đình bà. Bà năm nay 70 tuổi, mắt đã mờ, chân đã chậm. Bà sống một mình trong căn nhà rộng ở giữa làng.
Sau khi thắp nhang cắm lên các bát hương, bà ngồi trầm ngâm một mình, từng ký ức cuộc đời bà dần hiện lên trong đầu như một cuốn phim.
Hồi đó, Hạnh là con gái duy nhất của bố và mẹ cô. Bố cô là bộ đội chống Pháp, cô chưa một lần gặp mặt bố. Ông đi chiến dịch triền miên, năm 1954 hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ cách ngày giải phóng 1 ngày. Mẹ cô ở vậy nuôi cô.
Chiến tranh vẫn chưa chấm dứt, hết chống Pháp lại đến chống Mỹ. Năm 1971, Mỹ, Ngụy mở rộng chiến sự ra miền Bắc. Bao nhiêu trai tráng trong xã lần lượt tòng quân, lên đường vào Nam chiến đấu. Hạnh cũng muốn đi thanh niên xung phong, cô viết đơn và lên gặp xã đội trưởng, nhưng ông trả lại đơn và bảo: “Mày không đi đâu hết. Nhà mày chỉ có hai mẹ con. Với lại bố mày là liệt sỹ rồi”. Thế là Hạnh ở lại làng, tham gia dân quân.
Một ngày mùa xuân năm 1972, ông xã đội trưởng gặp Hạnh nói gia đình cô sẽ là một trong những nơi tạm trú để chờ tàu hỏa của một đơn vị bộ đội hành quân vào Nam. Lúc đó, Hạnh 19 tuổi, cô đẹp nhất làng. Mẹ cô thường hay than thở: “Hay mày lấy chồng đi con. Để có thêm con cháu. Chứ nhà chỉ có hai mẹ con vắng vẻ quá”. Cô chỉ cười trừ nói: “Khi nào chiến tranh kết thúc con mới lấy chồng”. Cô thầm nghĩ: “Lấy chồng thời chiến chinh mấy người đi trở lại. Như bố cô đấy, lấy mẹ cô, cưới xong mấy ngày rồi đi biền biệt, có trở lại đâu”.
Trong nhóm bộ đội ở nhà mình, Hạnh đặc biệt chú ý tới một người, là Toàn. Toàn có một vẻ lãng tử của con trai thành phố, chứ không “quê một cục” như mấy gã trai ở làng cô. Anh có dáng người cao ráo, thư sinh, và một nụ cười tỏa nắng. Toàn nhà ở Hà Nội, đang học năm ba Đại học xây dựng thì có lệnh tổng động viên, thế là gác lại sách bút, cầm súng lên đường. Cuộc sống buồn tẻ của cô quanh năm ở trong làng với toàn đàn bà con gái bỗng vui hẳn lên. Có lẽ một tuần nhóm bộ đội ở nhà cô là khoảng thời gian vui nhất trong cuộc đời cô. Toàn mang theo một cây ghi-ta, tối tối cơm nước xong xuôi, cả hội ngồi đàn hát đến khuya ở khoảng sân nhà cô. Toàn cũng có vẻ quất quýt với cô. Buổi chiều hai người thường lang thang trên những cánh đồng lúa đang thì con gái mơn mởn xanh. Có tối, Toàn không đàn mà rủ cô ra đê ngồi hóng gió. Anh kể cho cô nghe về gia đình, về Hà Nội. Cô tưởng tượng ra một Hà Nội đẹp lung linh, và cô mơ một ngày được đến Hà Nội.
Ngày vui ngắn chẳng tày gang. Một tuần trôi qua nhanh như một cơn gió. Ngày mai các anh bộ đội sẽ rời làng đi tiếp vào Nam chiến đấu. Buổi tối cuối cùng, hai người hẹn nhau ra khu vườn cây vắng vẻ cuối làng. Chuyện gì đến phải đến, mối tình tuy ngắn ngủi nhưng bùng cháy dữ dội vào đêm cuối trước khi chia tay. Hai người đã cháy hết mình trong cái đêm ấy. Hôm sau, Hạnh không dám tiễn Toàn ra tàu hỏa, cô chỉ ra đến cổng, dúi vào tay anh mảnh giấy ghi địa chỉ nhà cô và nói: “Nhớ viết thư cho em nhé”, rồi quay vào nhà ôm mặt khóc như trẻ con.
Ít lâu sau, Hạnh cảm thấy có sự khác lạ trong cơ thể. Có biết điều gì đang xảy ra. Cô vừa lo sợ vừa vui mừng. Chuyện không chồng mà có con sẽ không tránh được những ánh nhìn dò xét, những lời đàm tiếu ở cái làng này. Nhưng cô sẽ vượt qua chuyện đó. Cô vốn là một cô gái mạnh mẽ. Cô cảm thấy vui vì từ nay cuộc sống sẽ bớt tẻ nhạt hơn.
Những ngày tháng tiếp theo, cô vừa nuôi con, vừa ngóng tin Toàn. Cô mong mỏi nhận được thư Toàn, nhưng tuyệt nhiên không có thư. Rồi chiến tranh cũng kết thúc. Làng cô có mấy liệt sỹ, cũng có mấy người trở về, có người lành lặn, có người mang trên mình đầy thương tích. Toàn vẫn bặt vô âm tín. Cũng có lần cô định lên Hà Nội tìm gia đình Toàn, nhưng cô không nhớ địa chỉ, biết đâu mà tìm, lại thôi.
Hạnh không lấy chồng, cô cứ ở vậy nuôi con trai. Nỗi nhớ Toàn cũng dần nguôi ngoai. Cô chỉ băn khoăn một điều: Hay Toàn đã quyên cô từ lâu? Hay anh ấy đã hy sinh?
Thời gian thấm thoát trôi, con trai Hạnh nay đã 18 tuổi. Cô muốn nó học xong rồi làm một công việc gì đó ở quê. Đời cô đã chịu nhiều mất mát, cô muốn hai mẹ con cô ở bên nhau, cô không muốn rời xa nó. Nhưng cuộc đời thật trớ trêu! Thằng con cô lại tiếp nối cái nghiệp của ông nó và bố nó, một mực muốn trở thành người lính. Cô nói hết nước hết cái nó vẫn không nghe. Cô đành một lần nữa gạt nước mắt tiễn con đi. Nó vào Hải quân, vì nó yêu biển.
Nhưng cái nghiệp chướng của cuộc đời Hạnh vẫn chưa dừng lại. Vào một ngày mưa gió bão bùng, cô nhận được tin sét đánh: Con trai cô đã hy sinh khi tham gia cứu hộ tàu gặp nạn trên biển trong trận bão. Nó yêu biển, và giờ mãi nằm lại với biển. Năm đó nó 24 tuổi, chưa vợ con. Nhà lại thêm một liệt sỹ. Cô đau đớn khóc hết nước mắt. Mẹ cô phần vì già, phần đau buồn vì cháu mất cũng bỏ cô ra đi. Cô gắng gượng dậy sống tiếp những ngày tháng một mình.

Những lá thư thời chiến. (Ảnh: Nhà báo Đặng Vương Hưng)
“Bà Hạnh có nhà không?”, tiếng ai đó gọi ngoài cổng làm bà bừng tỉnh, chấm dứt dòng hồi tưởng. Là chú Thắng ở huyện đội, người vẫn qua lại nhà bà thường xuyên. Đi cùng Thắng là một người đàn ông chừng hơn bà vài tuổi, tóc bạc trắng, dáng người gầy gò khắc khổ. Người đàn ông lạ mặt tiến thẳng tới bàn thờ, thắp mấy nén nhang, vái lạy rồi khóc. Đoạn rút trong túi ra một tờ giấy cũ bạc thếch màu đưa cho bà: “Đây là thư của anh Toàn”. Toàn thân bà như có một luồng điện mạnh chạy qua, bà đứng không vững phải tựa vào thành ghế. Bình tĩnh trở lại, bà lấy kính, mở thư ra chậm rãi đọc:
“ Kon Tum, ngày … tháng … năm 1972.
Em yêu dấu!
Vậy là đã 6 tháng kể từ ngày chúng ta xa nhau. Đơn vị anh sau khi rời làng em đã đi qua nhiều chặng đường. Dọc đường hành quân, anh đã chứng kiến sự ác liệt của chiến tranh. Những ngôi nhà cháy rụi, những con đường bom đạn cày xới, những đồng đội ngã xuống.
Đơn vị đã vào đến Kon Tum từ mùa khô. Nơi đóng quân là chân một ngọn núi ở Sa Thầy, phía Tây dãy Trường Sơn. Trước mặt là con sông Sa Thầy trong xanh vào mùa khô, cuồn cuộn nước lũ vào mùa mưa. Xa xa là núi Ngọc Linh sừng sững, nơi được gọi là “nóc nhà” Tây Nguyên. Mùa khô ở đây rất khắc nghiệt, gió nóng khô từ Lào thổi suốt ngày đêm. Còn bây giờ đang là mùa mưa. Những cơn mưa rừng lê thê, kéo từ ngày này qua ngày khác, mưa thối đất thối cát. Mọi thứ đều sũng nước. Có những hôm củi ướt hết không nấu được cơm, bọn anh phải ăn gạo sống. Nhưng vẫn chưa là gì so với sốt rét rừng. Gần một nửa quân số đơn vị bị sốt rét. Mấy thằng người vùng cao rất to khỏe, vậy mà sau một trận sốt rét nước da tái xanh, đi không vững. Anh may mắn không bị sốt rét, anh vẫn khỏe, tuy có bị sụt mất 5 cân. Đấy là anh mới nói về thời tiết.
Tình hình chiến sự ở đây cũng rất ác liệt. Địch ra sức càn quét khu vực Bắc Tây Nguyên hòng chặn đường tiếp tế của ta từ Lào. Đơn vị anh có nhiệm vụ bảo vệ con đường tiếp tế này. Có những hôm địch bắn phá suốt ngày đêm. Cả một vạt rừng trước đây xanh tươi là thế, giờ ngổn ngang những thân cây bị đạn pháo, bom phạt ngang, đất đá tung tóe, mùi cháy khét lẹt. Nhờ phúc tổ tiên, anh vẫn bình an.
Sơ qua tình hình như vậy để em biết. Anh cũng chỉ diễn tả được phần nào sự ác liệt của chiến tranh. Chỉ những ai ở trong cuộc chiến mới thực sự cảm nhận hết được sự ác liệt của nó.
Em và U có khỏe không? Mùa màng năm nay thế nào? Cánh đồng xanh mướt chúng ta từng đi dạo giờ chắc lúa đã chín vàng.
Những lúc được nghỉ ngơi anh luôn nghĩ về em. Những đêm mưa rừng anh nhớ em da diết. Anh cầu mong chiến tranh sớm kết thúc. Anh hy vọng đến lúc đó anh còn sống và trở về. Anh sẽ đưa em ra Hà Nội, chúng ta sẽ đi trên con đường đầy hương hoa sữa giữa tiết trời se lạnh thu Hà Nội.
Thôi anh dừng bút ở đây. Ngày mai, đơn vị anh bước vào một trận đánh lớn, cuộc sống bây giờ có khi chỉ tính bằng giờ. Chỉ huy cho phép anh em tranh thủ viết thư. Nếu anh qua được trận này, anh sẽ viết tiếp cho em.
Nhớ và yêu em nhiều! ”
Gấp lá thư lại, bà Hạnh cuống quýt hỏi: “Giờ anh ấy ở đâu? Còn sống không?” Người đàn ông tóc bạc chậm rãi kể, ông là Chiến, cùng đơn vị Toàn. Toàn đã hy sinh trong trận đánh 1 ngày sau khi anh viết bức thư này. Bức thư được chuyển cho giao liên mang đi, nhưng trên đường đi cậu giao liên bị trúng bom, cũng hy sinh. Thư được chuyển lại đơn vị, ông Chiến giữ nó, ông nhét vào một chiếc lọ Penicillin, cất kỹ trong hòm đồ đạc của mình. Ông định sau giải phóng sẽ mang trả lại cho bà. Trong một trận đánh khác, ông bị một mảnh đạn pháo găm vào đầu, may mắn sống sót nhưng mất trí nhớ, xuất ngũ. Mãi cho đến thời gian gần đây trí nhớ của ông mới hồi phục, ông dần nhớ ra mọi chuyện, và hôm nay ông có mặt ở đây. Bà Hạnh khóc nức nở. Tưởng chừng bà đã hết nước mắt từ lâu rồi, hôm nay nước mắt lại tuôn rơi. Giọng nghèn nghẹn, bà hỏi ông: “Vậy giờ anh ấy nằm ở đâu?”. Ông Chiến lắc đầu: “Trận đánh quá ác liệt, bom rơi trúng đội hình ta, chôn vùi mấy chục anh em, trong đó có anh Toàn. Sau đó đơn vị được lệnh di chuyển đi. Nên giờ vẫn chưa tìm được các anh”.
Thời gian sau, bà Hạnh cùng ông Chiến lên Hà Nội thăm gia đình Toàn. Bà xin phép được lấy một tấm ảnh của Toàn về lập bát hương thờ. Ông Chiến hẹn với bà tháng sau sẽ trở lại. Ông nói với bà đã có những manh mối về hài cốt của các liệt sỹ hy sinh trong trận đánh ấy. Ông sẽ đưa bà cùng một đội quy tập trở lại mảnh đất Tây Nguyên, đi tìm đồng đội.
<Nguyễn Thế Đông>








Trả lời